Chào mừng khách hàng!

Trợ giúp

mechb2bTin công nghiệpChương trình kỹ thuật phòng chống dịch hại nghiêm trọng của lúa gạo năm 2026
Theo dự báo của Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp toàn quốc, bệnh sâu bọ lúa nước toàn quốc năm 2026 xảy ra thiên về tổng thể, trong đó khó khăn nhị hóa tổng thể xảy ra lớn, rận bay, sâu bọ cuốn lúa, bệnh khô héo, ốc Phúc Thọ v. v. xảy ra thiên về tổng thể, bệnh dịch ôn dịch lúa nước tổng thể xảy ra ở mức trung bình, bệnh quanh co lúa nước, bệnh khô lá trắng, bệnh thối rữa cơ bản do vi khuẩn, bệnh giun tròn lúa nước, kế mã lúa, ruồi lặn thân lúa, ve tơ phụ, ve lá lúa, rận bột lúa, muỗi mật v. v...... xảy ra ở vùng lúa cục bộ. Để làm tốt công tác phòng chống sâu bọ lúa nước năm 2026, thúc đẩy nâng cao đơn sản lượng lúa nước trên diện tích lớn, Trung tâm Kỹ thuật nông nghiệp toàn quốc đặc biệt xây dựng phương án này.
  I. Chiến lược phòng chống
Kiên trì phòng ngừa là chính, phòng chống tổng hợp, đặt chân vào cửa khẩu di chuyển về phía trước, điều trị sớm, lấy việc lựa chọn giống sâu bệnh chống (chống), thiết lập hệ thống sinh thái ruộng lúa khỏe mạnh làm cơ sở, thực hiện điều tiết sinh thái và biện pháp nông nghệ, quảng bá ứng dụng các công nghệ phòng chống xanh như lý hóa, phòng chống sinh học, v. v., sử dụng an toàn hợp lý thuốc trừ sâu hiệu quả thấp rủi ro, đảm
  2- Trọng điểm phòng chống
  (1) Khu lúa Hoa Nam.Bao gồm các khu vực trồng lúa hai mùa truyền thống của Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hải Nam và các tỉnh (Khu tự trị) khác, tập trung vào việc kiểm soát chấy bay, sâu lá cuộn lúa, sâu nhị hóa, sâu tam hóa, ốc Phúc Thọ, bệnh ôn dịch lúa, khô héo, bệnh khô lá trắng, bệnh quanh co lúa, chú ý chặt chẽ đến bệnh co thắt lúa đen của lúa nước miền Nam, khó khăn lúa Đài Loan, Trung Quốc, khó khăn lớn, kế mã lúa, ruồi tiềm thân lúa, muỗi gall, ve dây, ve bột lúa và bột đen của lúa.
  (2) Khu trồng lúa đơn hai mùa ở hạ du Trường Giang.Bao gồm các khu vực trồng lúa hai mùa đơn lẻ ở các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Hồ Bắc, Chiết Giang, Phúc Kiến và các tỉnh khác, tập trung vào phòng chống khó khăn nhị hóa, rận bay, sâu lá cuộn lúa, ốc Phúc Thọ, khô héo, ôn dịch lúa, bệnh khúc khuỷu lúa, thối bông, bệnh mầm xấu, bệnh khô lá trắng, thối cơ sở vi khuẩn, chú ý chặt chẽ đến bệnh co thắt đen của lúa nước phía Nam, ruồi tiềm ẩn thân lúa, khó khăn lớn, kế ngựa lúa, ve sầu, sâu ba hóa, ve rận, sâu bướm và bệnh giun chỉ lúa.
  (3) Khu lúa đơn mùa hạ lưu Trường Giang.Bao gồm các khu vực trồng lúa một mùa ở các tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) như Hồ Bắc, Giang Tô, Chiết Giang, An Huy, Thượng Hải, v.v., tập trung vào việc kiểm soát bọ chét bay, khó khăn nhị hóa, khó khăn của lá cuộn lúa, ốc Phúc Thọ, bệnh ôn dịch lúa, bệnh khô héo, bệnh khúc khuỷu lúa, bệnh khô lá trắng, theo dõi chặt chẽ các khó khăn lớn, bệnh thối gốc vi khuẩn, bệnh giun chỉ lúa nước và bệnh thối bông.
  (4) Vùng lúa Tây Nam.Bao gồm các khu trồng lúa đơn mùa ở các tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) như Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, v. v., trọng điểm phòng chống vé bay, khó khăn về mặt lúa, loa Phúc Thọ, bệnh ôn dịch lúa, bệnh hoa văn, bệnh quanh co lúa, bệnh co ngắt của lúa nước miền Nam, theo dõi chặt chẽ sâu bọ, ruồi bụi thân lúa, bệnh khô lá bạch, bệnh thối cơ sở vi khuẩn, bệnh sâu tuyến lúa, bệnh thối bông.
  (5) Khu lúa Hoàng Hoài.Bao gồm các khu trồng lúa đơn mùa ở các tỉnh An Huy, miền Bắc Giang Tô cũng như Hà Nam, Sơn Đông, v. v., trọng điểm phòng chống khó khăn thứ hai, vé bay, ôn bệnh lúa, bệnh hoa văn, bệnh quanh co lúa, theo dõi chặt chẽ bệnh tuyến trùng lúa nước, khó khăn về lưới lúa, bệnh co thấp thanh đen, bệnh khô lá hoa văn.
  (6) Vùng lúa phía Bắc.Bao gồm các tỉnh (Khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương) như Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hà Bắc, Thiên Tân, Nội Mông Cổ, Ninh Hạ, Tân Cương v. v., trọng điểm phòng chống bệnh ôn dịch lúa, bệnh mầm non, bệnh hoa văn khô héo, bệnh tuyến trùng lúa nước, khó khăn thứ hai, theo dõi chặt chẽ bệnh dịch lúa, bệnh thối rữa bông, ruồi lá tiềm năng lúa, sâu bùn âm, rận bay xám, sâu dính, sâu đục lúa.
  III. Biện pháp phòng ngừa
  1- Tên đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại (
  1. Chọn giống kháng (kháng).Tùy theo địa phương mà lựa chọn các giống lúa nước chống ôn dịch lúa (chịu), bệnh khô lá trắng, bệnh khô lá hoa văn, bệnh khúc lúa, bệnh co rút thanh đen, bệnh co rút thanh đen lúa nước miền Nam, rận bay nâu, rận bay lưng trắng v. v...... để tránh trồng các giống có cảm giác cao. Chú ý căn cứ vào lợi thế của mầm bệnh ôn dịch lúa, mầm bệnh khô lá trắng ở địa phương, bố cục hợp lý trồng giống lúa nước kháng tính với bối cảnh di truyền khác nhau.
  2. Điều hành sinh thái.Sử dụng công nghệ kỹ thuật sinh thái để trồng các loại cây có hoa như vừng, đậu nành, cúc Ba Tư, thiwaria, cỏ linh lăng và các loại cây khác trên bờ ruộng, cạnh rãnh ven đường, bên cạnh đường canh tác máy, giữ lại các loại cây trồng có chức năng như cỏ dại và cỏ dại, xây dựng các hành lang kiểm soát và kiểm soát sinh thái, hàm dưỡng và bảo vệ các kẻ thù tự nhiên như ong ký sinh và nhện, cải thiện đa dạng sinh học của ruộng lúa và tăng cường khả năng kiểm soát thiệt hại tự nhiên của kẻ thù tự nhiên; Tại khu vực tái phát sâu bệnh, trồng các loại thực vật như cỏ thơm, cách rừng 3 - 5 mét, giảm số lượng loài sâu bệnh.
  3. Biện pháp nông nghiệp.a) Lật cày tưới nước diệt nhộng. Tại khu vực phát triển lại sâu bọ, thời kỳ nhộng của sâu bọ Việt Đông thống nhất cày cấy ruộng nhàn rỗi mùa đông, ruộng xanh, tưới nước sâu cày cấy cả ruộng, ngâm trong cọc lúa 7 - 10 ngày, giảm số lượng sâu bọ. b) Trồng trọt thể hình. Phơi nắng đúng lúc, tránh tái bón, thiên về phân đạm, tăng thêm phân lân kali và phân silicon thích hợp, phối hợp sử dụng nấm vi sinh vật, cải thiện môi trường đất đai giữa các rễ. c) Lúa vịt cộng sinh. Ruộng lúa có điều kiện, trong giai đoạn đầu phân nhánh lúa nước, mỗi mẫu cho vào khoảng 10 con vịt con 15 - 20 ngày tuổi, khi lúa nước tề tuệ thì thu vịt, giảm bớt bệnh hoa văn, rận bay và ốc Phúc Thọ. d) Làm sạch điền viên. Thu hoạch thấp, sử dụng tổng hợp rơm rạ sau khi rời khỏi ruộng, tránh trực tiếp trả lại rơm rạ của sâu bọ, ôn dịch lúa, bệnh hoa văn, bệnh vi khuẩn.
  4. Lý hóa dụ khống.Vượt đông đại nhị hóa khó khăn, đại khó khăn và chủ hại đại lúa cuốn lá khó bắt đầu thời kỳ sâu bướm, tập trung liên phiến thiết lập tính tin tức tố, giao phối quấy nhiễu hoặc tập hợp dụ giết. Một là nhiễu giao phối, sử dụng thiết bị phun thông minh pheromone liều lượng cao, thiết lập 1 bộ mỗi 3 mẫu Anh, hoặc đặt máy phát tán túi khó khăn thứ hai trên cánh đồng, đặt trung bình 6 chiếc mỗi mẫu. Hai là, tập trung dụ giết, áp dụng tâm tán tán (tâm dẫn) và thiết bị bắt bướm đêm khô trong thời gian giữ hiệu lực trên 3 tháng, trung bình mỗi mẫu đặt 1 bộ, đặt đều trên đồng ruộng.
  5. Thuốc trừ sâu sinh học.Đối với sâu bệnh và sâu bệnh như sâu đục, sâu lá theo chiều dọc lúa, bọ cánh cụt, ốc futhọ, bệnh dịch tả lúa, bệnh vân tay, bệnh héo, bệnh khô, v.v., ưu tiên sử dụng thuốc trừ sâu sinh học như Bacillus thuringiensis, C. aureus, Staphylococcus brevicus, virus polykeratosome nhân cải xoăn, C. orbium granularis, Neem, Picoline, Saponin, Bacillus subtilis, C. aureus A, Chondromycin, Polyantimycin, Schemomycin, C. aureus, L. serpentin, Allicin, M. oligo, v.v.
  6. Phóng thích ong mắt đỏ.Trong thời kỳ khó khăn thứ hai, khó khăn chính của sâu bướm là giải phóng ong mắt đỏ khó khăn, mỗi thế hệ thả ong 2 - 3 lần, mỗi lần cách 3 - 5 ngày, mỗi mẫu mỗi lần thả 8000 - 10.000 con ong, đặt đều từ 5 - 8 giờ. Độ cao đặt thẻ ong thích hợp với thời kỳ phân nhánh cao hơn đỉnh cây 5 - 20 cm, thời kỳ bông thấp hơn đỉnh cây 5 - 10 cm. Có thể hạ xuống giải thích thả bóng trực tiếp ném vào trong ruộng. Mùa nhiệt độ cao nên thả ong vào chạng vạng tối.
  7. Rào cản vật lý.Tại các khu vực dịch bệnh virus như bệnh co rút, bệnh co rút, v. v. của lúa nước miền Nam và khu vực tái phát khó khăn lần thứ hai, áp dụng lưới chống côn trùng 20 - 40 mắt hoặc vải không dệt 15 - 20 gram/m2 để trồng mạ, hoặc áp dụng công xưởng hóa tập trung trồng trọt. Lắp đặt lưới ngăn cách ở cửa kênh tưới tiêu, cửa ra vào hoặc cửa ra vào của ruộng lúa, cửa ra vào của ốc Phúc Thọ, ngăn ngừa ốc Phúc Thọ đi vào ruộng theo nước.
  b) Công nghệ dược phẩm khoa học
  1.Xử lý hạt giống.Trước khi gieo hạt, các chất xử lý hạt giống như fluzokhuẩn ylhydroxylamide, rolitrile, thiamethazide, thiagram rolitrile, finella rolitrile, oxime isothiamine, floridine pente veridizing được sử dụng để ngăn ngừa các bệnh mầm non, bệnh dịch lúa, giun tròn lúa, bọ cánh cứng và các bệnh truyền qua hoặc mầm non do chúng lây lan, bệnh khô, cây kế lúa, v.v.
  2. Di dời thuốc.3 ngày trước khi cấy mạ, các tác nhân nội hấp được áp dụng để ngăn ngừa sâu bệnh, ôn dịch lá lúa, kế ngựa lúa, bọ cánh cứng và các bệnh do virus lây lan của chúng; Đối với các khu vực xảy ra bệnh giun tròn lúa, việc xử lý đất và cấy ghép bằng phương pháp ngâm rễ tác nhân được sử dụng trước khi cấy.
  3. Miễn dịch dụ kháng.Sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng thực vật như sắt dihydroporphene, polyactinazole, axit naphthalacetic, Aka-indi Brassica hoặc các chất hấp dẫn thực vật như aminoglobin để tăng cường sức đề kháng lúa.
  4. Dùng thuốc tổng hợp.Căn cứ vào chủng loại sâu bệnh, mức độ phát sinh, thời kỳ phát sinh của các thời kỳ sinh sản của lúa nước, xác định đối tượng điều trị chính và thời kỳ phòng chống thích hợp theo địa phương, dùng thuốc phòng ngừa các bệnh như ôn dịch lúa, bệnh khúc lúa, bệnh hoa văn khô v. v......, phối hợp với các loại thuốc phụ trợ thuốc trừ sâu như trà, dịch vàng v. v......, phòng chống sâu bệnh nhị hóa, khó khăn về lá cuốn lúa, rận bay v. v.
  a) Khó khăn thứ hai.Chỉ tiêu phòng chống dược phẩm là tỷ lệ hồng bao khô trong thời kỳ phân biệt đạt 8% - 10% hoặc 3% tỷ lệ hồng bao khô; Giai đoạn Tuệ Kỳ trọng điểm phòng chống ruộng lúa có lượng sâu bọ lớn đời trước, dùng thuốc vào giờ cao điểm ấp trứng. Theo sự phát triển của kháng sâu đục bản địa, các tác nhân như methoxymyl hydrazide, ethylpolybacterin, avil chlorobenzyl, avil indonex được lựa chọn hợp lý.
  (2) Rận lúaKhu vực du lịch giữa Nam Trung Quốc, Tây Nam, Trường Giang tập trung phòng chống bọ chét nâu và bọ chét trắng, khu vực lúa Hoàng Hoài tập trung phòng chống bọ chét trắng và bọ chét xám. Chỉ tiêu phòng chống là lượng sâu 100 tùng trong thời kỳ phân biệt 1000 con, lượng sâu 100 tùng trong thời kỳ Tuệ 1000 - 1500 con. Vùng lúa Tây Nam và Hoa Nam còn cần chú ý phòng, chống di dời vào thế hệ sau. Tùy thuộc vào sự phát triển của kháng chấy bay bản địa, các tác nhân như trifluoropyrimidine, allinoxamine, etherthrin, fluoroxaminitrile được lựa chọn hợp lý.
  c) Lúa cuốn lá khó.Thời kỳ phân nhánh lúa nước phát huy chức năng bồi thường cây, giảm dùng thuốc. Chỉ tiêu phòng chống dược phẩm là 150 ngọn cảnh lúa nước trong thời kỳ phân biệt, 60 ngọn cảnh lúa nước sau khi mang thai. Dùng thuốc từ thời kỳ trứng nở đến thời kỳ cao điểm ấu trùng thấp tuổi, thuốc có thể chọn Tứ Lạc Trùng amide, Vi Trùng Uy, Đa Diệt Nấm......
  d) Tam hóa khó.Lúa nước bị thủng rút bông ban đầu làm thuốc, trọng điểm phòng chống số lượng trứng mỗi mẫu đạt tới 40 miếng ruộng lúa, phương pháp cùng khó khăn.
  đ) Bệnh ôn lúa.Phòng chống dịch Diệp Ôn được dùng thuốc khi mới gặp bệnh ban đầu trên đồng ruộng, dịch Diệp Ôn phát bệnh nghiêm trọng trên đồng ruộng, có thể được dùng thuốc lần thứ hai sau 7 ngày; Phòng ngừa Tuệ ôn ban đầu thi dược, nếu khí hậu thích hợp nhiệt độ cao ẩm ướt, thi dược lần thứ hai vào kỳ Tề Tuệ. Thuốc bảo vệ có thể được lựa chọn với tricyclazole, propionidazole, micur flucyclozole; Thuốc trị liệu có thể chọn pyrazolate este vi khuẩn, v.v.
  (6) Bệnh tật. Kết hợp với bảo quản khi tỷ lệ đám rối bệnh từ cuối tiller đến giai đoạn mang thai đạt 20% và giai đoạn đầu của việc khai thác lỗ hổng, tác nhân chọn flucyclozole, hexazol, micur · flucyclozole, thifuramide, v.v.
  (7) Bệnh lúa và bệnh thối rữa.7 - 10 ngày trước khi lúa nước vỡ (10% gối lá kiếm và gối lá đổ đều bình thường) dùng thuốc phòng ngừa, nếu gặp thời tiết mưa nhiều, cách 7 ngày dùng thuốc lần thứ 2. Các tác nhân được lựa chọn fluzobacteriacylhydroxylamide, benzophenylpropionazole, oxime-pentazol, v.v.
  (8) Lập khô bệnh.Khi mạ xuất hiện triệu chứng, mặt lá giường giống phun sương phòng ngừa. Dược tề có thể chọn Ác Ma Linh.
  (9) Bệnh do vi khuẩn. Đối với các bệnh do vi khuẩn như bệnh khô lá trắng, trên cơ sở xử lý hạt giống và cấy ghép với thuốc, khi trung tâm phát bệnh xuất hiện trên cánh đồng, ngay lập tức áp dụng phòng ngừa và kiểm soát thuốc. Khu vực tái phát dùng thuốc phòng ngừa trước và sau bão, mưa to. Tác nhân chọn kẽm thiazole, thiamycone, v.v.
  (10) Bệnh virus lúa nước.Nhằm vào bệnh co ngắt của lúa nước miền Nam, khu vực thường phát ở miền Nam Trung Quốc và miền Nam Tây Nam áp dụng tính hút nội bộThuốc trừ sâuTrộn giống và cấy thuốc, mùa xuân (4 - 5 tháng) chuyển vào vùng lúa có tỷ lệ nhiễm độc cao hơn 1% hoặc tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn 3% của lúa nước miền Nam vào cuối thời kỳ trung và cuối thời kỳ lúa sớm, thời kỳ lúa Trung Quốc, lúa chiều và giai đoạn đầu phân nhánh cần phòng ngừa. Chọn thuốc chống bọ chét trắng, kết hợp với các thuốc chống virus như phốt pho độc hại, nấm mốc Ninh Nam. Nhằm vào bệnh khô lá hoa văn và bệnh co thắt thanh đen, từ thời kỳ mạ đến giai đoạn đầu phân nhánh dùng thuốc phòng chống bọ chét xám, thuốc sử dụng tham chiếu bệnh co thắt thanh đen lúa nước miền Nam.
  (11) Ốc Phúc Thọ.Trên cơ sở làm tốt các biện pháp như nuôi vịt ăn trên ruộng lúa, ngăn cách vật lý kênh nước, khi mật độ ốc trong thời kỳ mạ lúa đạt 1 - 2 đầu/m2, thời kỳ cày đạt 3 - 4 đầu/m2, có thể sử dụng các tác nhân như Tetra - acetaldehyde, muối ethanolamine diệt ốc. Cũng có thể kết hợp với chất hấp dẫn, phối hợp với bã trà hoặc vôi chín trộn đều để phòng ngừa.
  IV. Lưu ý
(1) Ưu tiên sử dụng phòng chống sinh học, thuốc trừ sâu sinh học phải được áp dụng trước thời hạn thích hợp, bảo đảm hiệu quả của thuốc.
(2) Thời kỳ dịch bệnh do vi khuẩn như bệnh khô lá trắng, nâng cao độ cao bay của máy bay không người lái, giảm ma sát mặt lá, xuất hiện vết thương dẫn đến nhiễm khuẩn.
(3) Các khu chăn nuôi như vịt lúa, tôm lúa, cá lúa, cua lúa và các khu vực lân cận như trồng dâu nuôi tằm nên thận trọng lựa chọn thuốc, nước ruộng sau khi bón thuốc không được thải trực tiếp vào các khu chăn nuôi như ao cá, tránh ảnh hưởng đến chăn nuôi.
(4) Thời kỳ cày lúa cố gắng tránh sử dụng methylamino avermectin benzoate, avermectin, giảm nguy cơ gây ra bọ chét bay; Thận trọng khi dùng thuốc diệt nấm loại ba.
(V) Theo kết quả giám sát kháng thuốc, trong vùng lúa khó khăn, sâu bướm lúa, sâu lá cuộn, v.v., ngừng sử dụng các tác nhân kháng cao như clorobenzamide, avermectin, imidacloprid, luân phiên hợp lý việc sử dụng thuốc trừ sâu, trì hoãn sự phát triển của kháng thuốc.
Tin tức mới nhất